VIETNAM QUE HUONG TOI

Saturday, April 29, 2006

CHIẾN LƯỢC HOA KỲ

Mọi người có quyền tự do ngôn luận; quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng khác theo sự lựa chọn của mình (Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm 1982). (Everyone shall have the right to freedom of expression; this right shall include freedom to seek, receive and impart information and ideas of all kinds, regardless of frontiers, either orally, in writing or in print, in the form of art, or through any other media of his choice.)


D I Ễ N Đ À N

CHÍNH THỂ QUỐC GIA, CHẾ ĐỘ CỘNG HÒA,
NẠN NHÂN CỦA CHIẾN LƯỢC HOA KỲ

30 tháng 4 / 1975, 30 tháng 4 / 2006, đã 31 năm trời, hơn 1/3 cuộc đời, "Thời gian đã làm nhòa đi bao kỷ niệm" , như một bài hát nọ nói lên; nhưng thời gian cũng giúp chúng ta có đủ bình tâm, sáng suốt để nhận ra thực hư, phải trái, để nhận ra chính thể quốc gia, chế độ cộng hòa là gì ? Và tại sao lại có ngày 30 tháng tư 1975 ? Tại sao chính thể quốc gia, chế độ cộng hòa đó lại phải thua trận ? Phải chăng họ là nạn nhân của chiến lược ngoại giao toàn cầu Hoa Kỳ , dân Việt là con chốt của cuộc cờ tranh hùng tư bản - cộng sản ?

Một chế độ xụp đổ tất nhiên không phải chỉ vì một nguyên nhân, ngay dù cho đó là nguyên nhân chính quan trọng, mà do nhiều nguyên nhân : nguyên nhân gần, xa, nguyên nhân nội tại, ngoại tại.
Cũng như chính thể quốc gia không phải mới bắt đầu từ năm 1954, mà ít nhất là sau Thế Chiến Thứ Hai.


Vua Bảo Đại và Tướng Navarre (Pháp). Vietnam 1953

Ngày 6 và 9 tháng 8 năm 1945, hai trái bom nguyên tử bỏ xuống Hiroshima và Nagashaki. Nhật đầu hàng. Quân Nhật chiếm đóng tại Việt Nam như rắn mất đầu. Lợi dụng tình thế đó, nhất là lợi dụng cuộc biểu tình của công chức Hà Nội, ngày 19 tháng 8, đảng Cộng sản Việt Nam đã nổi lên cướp chính quyền ở Hà Nội và một vài nơi. Bảo Đại thoái vị và tuyên bố : "Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước bị trị ". Tinh thần yêu nước của dân Việt, từ dân cho tới quân, vào lúc này, không ai có thể chối cãi được. Ai ai cũng thiết tha vì độc lập và sẵn sàng hy sinh cho đất nước. Chính phủ đoàn kết dân tộc quốc cộng ra đời. Bảo Đại, nay là công dân Vĩnh Thụy, làm cố vấn cho chính phủ. Tuy nhiên chính phủ đoàn kết quốc gia không sống được lâu, vì Hồ chí Minh và những người cộng sản, chỉ nghĩ đến quyền lợi của đảng, nghe lời Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, tìm cách giết hại những người quốc gia. Cố vấn Vĩnh Thụy bỏ sang Hồng Kông. Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn tường Tam sang Nam Kinh. Phó Chủ tịch chính phủ Nguyễn hải Thần sang Quảng Tây. Ở điểm này ta thấy rõ không phải vì người quốc gia không muốn đoàn kết, không muốn hòa giải hòa hợp, mà vì người cộng sản tìm cách triệt hạ người quốc gia.

Ở Hồng Kông ít lâu, đầu năm 1949, Bảo Đại qua Pháp thương thuyết với tổng thống Pháp Vincent Auriol, yêu cầu Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam.
Ngày 8/3/1949, Thỏa ước Elysée được kí kết giữa Bảo Đại và Vincent Auriol, theo đó Việt Nam độc lập và nằm trong Liên Hiệp Pháp.
Ngày 2/7/1949, Bảo Đại về nước thành lập Chính phủ quốc gia. Quốc trưởng kiêm Thủ tướng chính phủ : Bảo Đại.
Chính thể quốc gia được thành lập từ đó. Cũng từ đó chiến tranh Quốc-Cộng bắt đầu, đứng sau là cuộc tranh hùng tư bản - cộng sản.

Cuộc chiến kéo dài 5 năm. Hiệp định Genève 1954 mà đồng chủ tịch là Anh, Liên Sô, với sự tham dự của Mỹ, Trung Cộng, Ấn, được kí kết, chia đôi Việt Nam. Sau đó chế độ Cộng Hòa ra đời ở miền Nam. Năm 1956, chính phủ Cộng Hòa miền Nam từ chối tổ chức tổng tuyển cử như tinh thần hiệp ước Genève, viện lẽ rằng miền Bắc không có dân chủ, bầu cử sẽ không phản ảnh trung thực nguyện vọng của dân, hơn thế nữa Cộng hòa Việt Nam không ký vào Hiệp Định Genève. Cùng năm Khrouschev đề nghị cho 2 nước Việt Nam : Việt Nam Cộng hòa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào Liên Hiệp Quốc. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa từ chối . Liền sau đó đảng Cộng sản quyết định mở đường mòn Hồ chí Minh nhằm vận tải người, võ khí, lương thực vào Nam để cưỡng chiếm miền Nam, thống nhất bằng võ lực. Năm 1960 Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được thành lập, đứng sau là đảng Cộng sản. Chiến tranh quốc - cộng lại tái diễn. Quân Mỹ đổ bộ vào miền Nam càng ngày càng đông. Chiến tranh càng ngày càng khốc liệt mà cao điểm là trận tổng công kích tết Mậu Thân 1968, buộc Mỹ phải công nhận Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và mở ra Hội Đàm Ba Lê, với sự tham dự của 4 thành phần: Mỹ, Việt Nam Cộng Hòa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Hiệp Định Ba Lê được kí kết vào năm 1973 với sự tham dự của 3 thành phần Việt Nam, với sự hiện diện của Tổng Thư Kí Liên Hiệp Quốc, của 5 cường quốc Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Trung cộng và một số quốc gia khác.

Tuy nhiên vì chiến lược toàn cầu, vì khó khăn nội bộ, Hoa Kỳ không thể giúp miền Nam như trước đây; trong khi đó cộng sản miền Bắc được sự giúp đỡ càng ngày càng gia tăng của khối cộng sản, đưa đến hiện tượng 30/4/1975 : trước sự tấn công của cộng sản chính thể Việt Nam Cộng Hòa đã xụp đổ.

Chính thể Việt Nam Cộng Hòa xụp đổ tất nhiên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có sự lầm lẫn của chính quyền Mỹ, thay vì giúp các lực lượng quốc gia bằng kinh tế và quân sự, lại đổ quân vào miền Nam, làm cho ngọn cờ chính nghĩa quốc gia đã lu mờ, chao đảo trước đây vì sự có mặt của người Pháp, nay lại trở nên lu mờ và chao đảo hơn vì sự có mặt của người Mỹ. Sau này theo sự tiết lộ cuả Hoàng văn Hoan quân số Trung cộng đóng tại miền Bắc có lúc lên tới 300 ngàn , nhưng với bản chất gian manh lừa đảo Cộng sản đã qua mặt được nhân dân miền Nam và cộng đồng quốc tế. Hơn thế nữa, chiến tranh càng ngày càng trở nên khốc liệt, gần như gia đình Việt Nam nào cũng có con em trong quân đội, là nạn nhân xa gần của chiến tranh, dễ bị lay chuyển bởi tuyên truyền cộng sản : " Chỉ cần Mỹ rút khỏi, Thiệu Kỳ ra đi là hòa bình trở lại ". Tinh thần quân đội miền Nam thì càng ngày càng xút giảm, không phải vì thiếu ý chí chiến đấu, mà vì thiếu phương tiện chiến đấu. Trước đó người Mỹ chi tiêu cho chiến tranh Việt Nam 20 tỷ Mỹ kim mỗi năm, nay chỉ còn không đầy 1 tỷ, đúng ra là 700 triệu, mà chỉ tháo khoán 300 triệu. Chuyện thua gần như chắc. Chỉ tiếc rằng chính quyền miền Nam đă không sửa soạn việc thua một cách khéo léo, gây nên quá nhiều mất mát, đau thương.

Nhưng trong những nguyên nhân thua trận, có người nghĩ : "Nguyên nhân chính đó là chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ, Việt Nam là con chốt bị thí trong cuộc cờ tranh hùng tư bản - cộng sản ." Có phải thật thế hay không ?

Cuộc tranh hùng tư bản - cộng sản không phải chỉ mới bắt đầu ở Việt Nam, mà có thể nói từ năm 1919, khi các nước tư bản Anh, Pháp, Nhật gửi quân sang Nga giúp những người Bạch Nga giành lại chính quyền, lật đổ chính quyền cộng sản của Lénine. Cuộc chiến kéo dài 2 năm, phía tư bản và Bạch Nga thua, đưa đến sự kiện tư bản và cộng sản hòa hoãn. Năm 1921, Anh kí hoà ươc thương mại với Cộng Hòa Liên Bang Sô Viết Nga.
Rồi hiện tượng phát xít xuất hiện, ở Ý năm 1921 với Mussolini, ở Đức năm 1933 với Hitler; sau này ở Nhật với nhóm quân phiệt. Trục phát xít Đức - Ý - Nhật ra đời. Thế Chiến Thứ Hai bùng nổ phần lớn là lỗi ở ba nước Trục. Các nước cộng sản tư bản bắt buộc phải bắt tay nhau để diệt phát xít.

Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt. Cuộc tranh hùng tư bản - cộng sản trở lại, bắt đầu Chiến Tranh Lạnh.
Chiến Tranh Lạnh bắt đầu từ sau Thế Chiến đến lúc bức tường Bá Linh xụp đổ, gần 50 năm .
Trước khi bức tường Bá Linh xụp đổ, Paul Nitzé, cha đẻ của Chính sách Be Bờ (Politique d'Endiguement ) đă tuyên bố : "Chúng ta đã thắng Chiến Tranh Lạnh".
Vậy Paul Nitzé là ai ? Chính sách Be Bờ là gì ? Đâu là những điểm chính của chính sách này đã giúp Hoa Kỳ và thế giới tự do đánh bại cộng sản ? Và tại sao Việt Nam Cộng Hòa lại là nạn nhân của chính sách này ?

Paul Nitzé, cố vấn về vấn đề an ninh, cùng tổng thống Truman, tham dự hội nghị Potsdam từ ngày 17/7 đến ngày 2/8/1945 với Churchill và Staline. Theo những nhà báo và sử gia thì Paul Nitzé đã mang quyển truyện Trại Súc Vật (Animal Farm ) của nhà văn hào nổi tiếng Anh quốc, George Orwell, là quyển sách gối đầu giường và ông cũng không ngần ngại cho Staline mượn đọc. Chính sách Be Bờ của ông là lấy ý từ quyển sách này.

Theo G. Orwell, trong một trại súc vật nọ, một hôm, con heo già mà người đọc liên tưởng ngay đến K. Marx, nằm mơ tới một thế giới khác, quả thực là tốt đẹp, là một thiên đàng; bỗng bừng mắt dậy, thấy thực tế quá đau thương, phũ phàng. Con heo già suy nghĩ, tìm nguyên do và đi đến kết luận là tại con người, ông chủ trại bóc lột xúc vật. Con người, con heo già nghĩ thầm, không có tài cán gì, nó không thể kéo cày như con ngựa, không thể đẻ trứng như con gà, chưa lạnh thì nó đã run, chưa nóng thì nó đã nực; thế mà nó lại ăn sung, mặc sướng, chẳng qua vì nó bóc lột sức lao động cuả các con vật. Thế rồi con heo già tụ tập những con vật khác lại, nào gà, nào vịt, nào ngựa, nào chó v.v.., để tuyên truyền và hô hào làm cách mạng. Cách mạng súc vật thành công, mặc dầu có sự chống trả của ông chủ. Ban đầu thì thóc gạo trong kho còn nhiều, con vật nào cũng hỉ hả, chia chác công bằng. Sau đó, vì súc vật không biết sản xuất, làm kinh tế, thóc gạo trong kho càng ngày càng cạn, sự công bằng càng ngày càng giảm, đưa đến chỗ súc vật cắn quái lẫn nhau. Trại súc vật tan rã.

Theo Paul Nitzé, đương đầu với cộng sản lúc ban đầu, lúc cao điểm, là lao đầu vào chỗ chết. Phải đợi. Chính vì lẽ đó mà Paul Nitzé cùng George Kenan, một chuyên viên về vấn đề cộng sản và Nga sô ở bộ ngoại giao Hoa Kỳ từ năm 1940, soạn ra chính sách Be Bờ.

Chính sách này được gói ghém trong một tài liệu mật từ năm 1950 tới năm 1989. Tài liệu này được chính giới nhất là giới ngoại giao Hoa Kì coi như là Kinh Thánh cho chính sách đối ngoại trong thời Chiến Tranh Lạnh, được viết vào năm 1950 bởi Paul Nitzé, lúc ông làm cố vấn cho Truman, với sự trợ giúp của G. Kenan. Tài liệu này mang tên "Chỉ thị số 68 của Hội Đồng An ninh Quốc gia" định ra những mục tiêu dài hạn và phương thức đối phó với cộng sản trong nền ngoại giao Hoa Kỳ. Những mục tiêu đó là : 1) Ngăn chặn sự bành trướng của Nga Sô ở Á châu ; 2) Tăng cường giúp đỡ các nước Tây Âu và Khối Bắc Đại Tây Dương về vật chất cũng như về tinh thần, để Nga sô không thể làm áp lực, để mặc cả với Thế giới Tự do ; 3) Kiên nhẫn chờ đợi tranh chấp bùng nổ trong lòng chế độ cộng sản; lúc đó mới đổi thế phòng thủ ra thế phản công. Tài liệu này còn nhấn mạnh thêm rằng đừng bao giờ hạ nhục Nga Sô, mà ngược lại tìm cách tạo những phương tiện thuận lợi để Nga Sô biến đổi, đi theo chiều hướng dân chủ Tây phương và tôn trọng chủ quyền của các dân tộc khác.

Trải qua bao nhiệm kỳ và đời tổng thống, ông Paul Nitzé vẫn giữ chức Trưởng phái đoàn về vấn đề tài giảm binh bị Mỹ - Nga tại Genève. Ngày hôm nay người ta mới rõ ra rằng đây là một đài quan sát để biết rõ hiện tình quân sự và võ trang của Nga Sô, ngõ hầu lôi cuốn Nga vào một cuộc chạy đua tiêu tiền giữa kẻ giầu và người nghèo, đến lúc kẻ nghèo kiệt sức rồi ngã quỵ . Đó là lúc mà tổng thống Reagan thách thức Nga Sô chạy đua vào hệ thống phòng thủ không gian. Cũng là lúc đế quốc Nga Sô xụp đổ.

Năm 1989, Paul Nitzé 82 tuổi, xin về hưu, không làm Trưởng phái đoàn thương thuyết tài giảm binh bị nữa, mới tiết lộ đứa con tinh thần của mình "Chỉ thị số 68 của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia" và tuyên bố : "Chúng ta đă thắng Chiến tranh Lạnh". Đó cũng là ý kiến của Tướng Brent Crowcroft, Cố vấn an ninh của tổng thống G. Bush cha, khi ông tuyên bố vào ngày 9/4/1989 : "Tây phương đă chiến thắng cộng sản trên phương diện ý thức hệ ".

Một cách tổng quát, người ta có thể nói chiến lược ngoại giao toàn cầu Hoa Kỳ đối với cộng sản có thể chia ra làm 2 giai đoạn : Giai đoạn phòng thủ và giai đoạn tấn công.

1) Giai đoạn phòng thủ chính là giai đoạn của chính sách Be Bờ đi từ cuối Thế Chiến Thứ Hai đến cuối thập niên 60, đầu thập niên 70.

Trong giai đoạn này, phía cộng sản tấn công phía tư bản trên nhiều phương diện: ý thức hệ, chính trị, kinh tế, quân sự và xã hội . Phía tư bản chỉ tìm cách be bờ, ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản.

Về ý thức hệ, người cộng sản dùng lí thuyết mác lê như một lợi khí tuyên truyền nhằm giải phóng con người, giải phóng các nước bị trị khỏi ách thống trị của đế quốc tư bản, để đi đến một thế giới cộng sản đại đồng.

Về chính trị, kinh tế, quân sự và xã hội, Nga sô một mặt giúp đỡ các đảng cộng sản tại các nước tư bản, xúi dục thợ thuyền đình công, gây tê liệt kinh tế, xáo trộn xă hội, mặt khác giúp các phong trào, các tổ chức chính trị ở những nước nhược tiểu đòi độc lập. Cộng sản đã tấn công tư bản từ lâu, từ thời Lénine. Lúc đầu với chiến lược tấn công trực tiếp, nhắm ngay đầu não tư bản để tấn công, theo đúng tinh thần của Marx, cách mạng cộng sản chỉ có thể xẩy ra tại các nước tư bản kỹ nghệ tiền tiến, vì chỉ ở những nước này mới có giai cấp vô sản, độiquân tiền phong của cách mạng cộng sản. Nhưng Marx đã hoài công chờ đợi. Lénine cũng vậy. Cách mạng cộng sản không xẩy ra ở Anh. Cuộc nổi dậy vào năm 1921 của cộng sản Đức ở Berlin mà Lénine đặt nhiều kỳ vọng thì bị dẹp trong trứng nước. Năm 1923, tại Đại Hội IV Đệ Tam Quốc tế Cộng sản, họp từ tháng 11 tới tháng 12 năm này, với đề tài " Vấn đề thuộc địa và Đông phương " Lénine đổi chiến lược, nhằm tấn công gián tiếp tư bản. Ông nói : " Cách mạng cộng sản sẽ đi qua của ngõ New Delhi, Bắc Kinh rồi mới tới Ba lê và Luân Đôn . " Chính vì lẽ đó mà Hồ chí Minh, tiêu biểu cho các nước bị trị bởi đế quốc Pháp, lúc đó đang sống ở Pháp, có dịp đọc tài liệu về vấn đề thuộc địa của Lénine, và L. Roy, người Ấn Độ cùng học trường Đông Phương của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, rất coi thường họ Hồ trên phương diện lý thuyết và tư tưởng, tiêu biểu cho các nước bị trị trong đế quốc Anh; cả hai đã được Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản giúp đỡ. Vào năm 1923 Phái Đoàn Cộng sản đại diện Lénine đă kí với Tôn dật Tiên một Hiệp ước thân thiện, cử phái đoàn Borodine mà Hồ chí Minh làm thông ngôn và Chu ân Lai làm thư kí giúp đỡ họTôn mở trường quân sự Hoàng Phố.
Chiến lược tấn công gián tiếp của Lénine lúc đầu đă mang lại nhiều kết quả ngoạn mục, làm cho tư bản thất điên bát đảo: Anh phải trao trả độc lập cho Ấn vào năm 1947. Phải nhớ cuộc giành độc lập của Ấn là do Ghandi lãnh đạo chứ không phải đảng cộng sản của L. Roy. Tuy nhiên đảng này cũng đóng góp phần quan trọng vào cuộc giành độc lập này và đã gây một tiếng vang rất lớn. Mao trạch Đông cướp được chính quyền ở lục địa năm 1949. Hồ chí Minh cướp chính quyền ở Việt Nam vào năm 1945, nắm quyền ở miền Bắc từ năm 1954. Cùng nhiều cuộc đảo chính có mầu sắc cộng sản theo mô hình kinh tế tập trung ở Phi châu và châu Mỹ La tinh.

Những chiến thắng trên tuy ngoạn mục, nhưng không phải là những đòn chí tử, đánh gục đối phương, mà ngược lại nó chỉ làm cho cộng sản, đứng đầu là Nga Sô, hao tổn quá nhiều về tiền tài. Các đảng cộng sản trên thế giới và ngay cả những quốc gia có khuynh hướng cộng sản mới thành lập không giúp gì được Nga Sô, mà chỉ là những chương mục để Nga sô chuyển tiền giúp đỡ. Những đảng cộng sản ở những nước giầu có như Pháp, Anh, Ý cũng vẫn do Nga Sô giúp đỡ hàng năm. Cộng thêm vào đó là cuộc chạy đua vũ trang với Hoa Kỳ đã làm Nga kiệt quệ.

2) Giai đoạn phản công.
Người ta có thể nói giai đoạn này bắt đầu vào năm 1968 khi Nixon đắc cử tổng thống, khi tranh chấp Nga - Hoa lên đến cao điểm, khi Mỹ chứng tỏ đã vượt Nga về vấn đề chạy đua không gian , khi những phi hành gia của Mỹ đặt chân lên mặt trăng ( 1969 ), khi Nixon viếng thăm Bắc Kinh năm 1972.

Để phản công, Hoa Kỳ cũng tấn công cộng sản trên nhiều phương diện : ý thức hệ, chính trị, kinh tế, quân sự và xã hội. Có nghĩa là Hoa kỳ chứng minh cho thế giới thấy thực tế cộng sản hoàn toàn trái ngược với lý thuyết và tuyên truyền cộng sản. Cộng sản không mang lại ấm no, hạnh phúc mà là nghèo đói ; không mang lại tự do, giải phóng, mà là độc tài và xiềng xích. Cộng sản không mang lại tình huynh đệ, thế giới đại đồng, mà là tranh chấp biên giới như tranh chấp Nga - Hoa, tranh chấp Việt - Hoa. Đồng thời Hoa Kỳ phải tô điểm hình ảnh của mình bằng cách không giúp đở những chính quyền độc tài, phản nhân quyền và giảm thiểu sự có mặt quân đội trên thế giới. Người ta có thể nói đó là một trong những nguyên do chính khiến Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam, không hỗ trợ chính quyền cũa Shad d'Iran. Tháng 7/ 1976, tổng thống Mỹ Henry Ford kí hiệp ước Helsinki trong đó có điều khoản tôn trọng nhân quyyền. Hoa Kỳ đă đưa vấn đề tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền lên hàng ý thức hệ để tấn công cộng sản .

Về chính trị và quân sự, ngoài việc thách thức Nga Sô chạy đua vũ trang như tổng thống Reagan thách thức về hệ thống phòng thủ không gian, Hoa kỳ còn giúp Kháng chiến A phú Hãn, làm sa lầy Nga Sô ở đây, giúp Liên Đoàn Đoàn Kết ở Ba Lan, đầu cầu đưa đến sự xụp đổ cộng sản ở Đông Âu.
Cho đến ngày bức tường Bá Linh xụp đổ 1989, giai đoạn phản công của Hoa Kỳ kéo dài trên dưới 20 năm.

Nhưng tại sao có người lại đưa ra giả thuyết cho rằng chính thể quốc gia, chế độ cộng hòa Việt Nam lại là nạn nhân của chiến lược ngoại giao tòan cầu Hoa Kỳ ?

Từ khi Hoa Kỳ có mặt ở Việt Nam, năm 1954 tới 1975, giai đoạn này nằm trong giai đoạn của chiến lược phòng thủ với chính sách Be Bờ (1950 - 1970) và giai đoạn sửa soạn bước sang chiến lược tấn công (1970 - 1975). Vì cán cân lực lượng còn ngang ngửa, vì tranh chấp chưa bùng nổ trong lòng chế độ cộng sản, Hoa Kỳ rất thận trọng trong giai đoạn này, chỉ tìm cách be bờ, ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản, cố gắng không gây gổ với họ. Bởi lẽ đó, vào thập niên 60, có nhiều lần Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa đề nghị gửi quân qua vĩ tuyến 17, đánh thẳng ra ngoài Bắc . Hoa Kỳ đều từ chối. Tác giả bài này, sau 1975, có dịp dự một cuộc hội thảo quốc tế về Chiến tranh Việt Nam : một vị cựu chính khách Việt Nam Cộng Họ̀a có hỏi một vị kí giả, cựu nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ : Trong một trận đá banh giữa 2 đội A và B; đội B chỉ có quyền phòng thủ chứ không có quyền tấn công; đội A thì có cả 2 quyền. Trong trường hợp như vậy, hỏi quí vị, làm sao đội B có thể thắng đội A . Vị cựu ngoại giao Hoa Kỳ đã không trả lời.

Là nạn nhân suốt trong thời kỳ chính sách Be Bờ (1950 - 1970), Việt Nam Cộng Hòa còn là nạn nhân của thời kỳ Hoa Kỳ sửa soạn phản công (1970 - 1975). Trong thời kỳ sửa soạn phản công, Hoa Kỳ phải tô điểm hình ảnh của mình : một mặt trình bày xã hội Hoa Kỳ cởi mở, dân chủ, kinh tế phồn thịnh; mặt khác giảm thiểu sự có mặt quân sự trên thế giới, giúp đỡ những phong trào tranh đấu vì dân chủ nhân quyền. Bởi lẽ đó, năm 1978, Hoa Kỳ không ngần ngại ngừng giúp đỡ chính quyền Shad d'Iran, vô tình tạo dịp thuận lợi để Khomeini về nước cướp chính quyền.

Tất nhiên việc Hoa Kỳ kí Hiệp Định Ba Lê, rút quân khỏi Việt Nam không phải chỉ vì chiến lược toàn cầu, vì chính sách Be Bờ, mà còn vì nhiều nguyên do khác: vào thập niên 60, phong trào phản chiến ngày càng mạnh ở Hoa Kỳ, đồng Dollar mất giá trên thị trường buộc tổng thống Nixon phải lấy quyết định bỏ nguyên tắc đổi ra vàng ( convertible en or ) của Dollar; vào đầu thập niên 70, vụ Waltergate, khủng hoảng chính trị Hoa Kỳ làm Nixon phải từ chức.
Chúng ta không thể nhìn một biến cố chính trị, lịch sử từ một góc cạnh, qui về một nguyên nhân, mà phải nhìn nó từ nhiều góc cạnh, tìm ra nhiều nguyên nhân. Như thế mà nhiều khi còn lầm lẫn trong phán xét.

Có người nói chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ nói chung và ở Việt Nam nói riêng rất là mâu thuẫn, tay phải đánh tay trái, chân trái đá chân phải.

Đúng , nếu chúng ta nhìn cục bộ và ngắn hạn như việc rút quân vội vã ở Việt Nam, việc một số nhà ngoại giao Hoa Kỳ bị bịt mắt dẫn đi và làm nhục ở ngoài đường tại Iran năm 1978.
Sai , nếu chúng ta nhìn toàn diện và dài hạn. Ngày hôm nay không ai chối cãi là Hoa Kỳ đã lãnh đạo thế giới Tự do chiến thắng Cộng sản trong Chiến Tranh Lạnh. Lãnh đạo một cuộc chiến trong vòng nửa thế kỷ, rồi chiến thắng nó không phải là tầm thường và thiếu kiên nhẫn, cũng như chính sách trong suốt thời gian đó không phải là thiếu khôn ngoan và không hợp lí.

Chỉ tiếc rằng Chiến Tranh Lạnh đã chiến thắng mà Việt Nam vẫn còn là cộng sản, mặc dầu phần đóng góp của dân Việt Nam vào chiến tranh này không phải là nhỏ !

Viết đến đây, tác giả bài này lại nhớ đến những câu chuyện mà Ông thân sinh của tác giả thường kể về những đối thoại của Ông với một Cụ đồ Nho, vừa là Thầy, vừa là người nhà, vào những năm 40, 50.
Ông kể vào năm 1945, khi cộng sản nổi lên cướp chính quyền ở trong làng, Cụ đồ Nho có gọi Ông lại và nói : "Cậu ạ ( tiếng gọi thay con và là người thân ở miền Bắc ) ! Chúng nó ( chỉ những người cộng sản cướp chính quyền ) chỉ là phường ăn cướp." Khi cộng sản tổ chức bầu cử quốc hội, Cụ lại gọi Ba tôi lại và nói : "Hỏng rồi Cậu ạ ! Chúng là phường ăn cướp, nhưng chúng lại có chính nghĩa mất rồi !" Vì gia đình tôi ở vùng miền núi, hoàn toàn bị kiểm soát bởi cộng sản, maĩ tới cuối năm 1952 mới tìm cách trốn ra vùng tề ( tự do), cộng sản bắt đầu đấu tố sớm ngay vào những năm 1951, 1952 ở những vùng này. Trước những cảnh đấu tố, Cụ có nhận xét : "Cậu ạ ! Chúng nó không thể tồn tại lâu được đâu ."Tại sao vậy Thầy ?" Ba tôi hỏi lại. Ông Cụ trả lời : "Tôi lấy thí dụ để Cậu hiểu rõ : như vụ đấu tố địa chủ, phú nông. Chúng ( cộng sản ) mang gia tài, ruộng đất, trâu bò của địa chủ, phú nông ra canh sách, chia nhau. Một con trâu, để đó, dù nó là của địa chủ, phú nông, thì nó còn cày ruộng. Nay vì đấu tố, mang con trâu ra làm thịt, canh sách, chia chác, kẻ cái đầu, người cái đuôi, ăn uống hả hê. Con trâu chết rồi, lấy gì mà cày. Ruộng ở trong tay phú nông, địa chủ, thì họ còn cày còn làm ra thóc gạo. Nay chia ruộng cho bần cố nông, vừa lười biếng, vừa không biết làm ruộng, lấy đâu ra thóc gạo ! Cứ như thế này, sớm muộn, chúng cũng sẽ sụp đổ, đời tôi thì không chắc, nhưng đời Cậu thì chắc; vì chúng là phường chỉ biết cướp ăn chứ không biết làm ăn !"

Việt Nam cũng có những người suy nghĩ như G. Orwell. Như Cụ Đồ Nho nọ !

Chỉ tiếc là Cụ mất sớm, đã không thấy cộng sản xụp đổ ở Nga Sô và Đông Âu. Ba của tác giả thì đã có thể chứng kiến hiện tượng chính trị lịch sử quan trọng này, nhưng không ở Việt Nam. Đó là điều Ông tiếc trước khi mất.

Làm cho Việt Nam không còn là cộng sản, trở nên tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền, ấm no và phồn thịnh. Đó là nguyện ước của toàn dân Việt hiện nay và ngay cả những người đă khuầt .

Paris, ngày 27 / 4 / 2006. Viết cho ngày 30 tháng 4
Chu chi Nam

D I Ễ N Đ À N

NHÌN LẠI 30 NĂM TRƯỚC
Nguyễn Khắc Toàn (tháng 4-2006)

Thấm thoát thế mà đã một phần ba thế kỷ đã trôi qua, kể từ khi thế hệ chúng tôi những thanh niên Hà Nội rời ghế nhà trường vượt dãy Trương Sơn hàng ngàn cây số vào Nam chiến đấu...

Cuộc chiến tranh "Huynh đệ tương tàn - nồi da nấu thịt" ấy đã để lại trong tôi những chấn thương về cả tinh thần lẫn thể xác. Về phương diện tinh thần, tôi đã có cái nhìn rất khác so với nhiều đồng đội của mình là những người xuất phát đa phần từ nông dân, sinh trưởng từ nông thôn miền Bắc Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu.

"Rằng đây là cuộc chiến tranh cách mạng nhằm giải phóng miền Nam khỏi đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ ngụy quyền tay sai ! ! ? ? ? "
"Rằng đây là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân Miền Nam khỏi ách kìm kẹp của Mỹ Ngụy và đây là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thiêng liêng...",
như bộ máy tuyên truyền vĩ đại ở miền Bắc hô hào ngày đêm !!!? v.v... và v.v...

Sau ngày kết thúc cuộc chiến 30-4-1975, tôi có dịp cùng đơn vị vào tiếp quản các thành phố và thị trấn như: Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Cần Thơ, Rạch Giá tận mắt chứng kiến cuộc sống của đồng bào vùng miền Tây Nam bộ trên cả mặt trái và phải. Cả ngày và đêm 30-4-1975, tôi cùng đồng đội tiến vào các thị xã, thị trấn thuộc tỉnh Long Châu Hà (là địa danh của 2 tỉnh Long Xuyên - Châu Đốc và thị trấn Hà Tiên mà quân đội miền Bắc gọi tắt).

Ngồi xuồng gắn máy đuôi tôm trên đường vào thị xã Long xuyên, tôi nhận thấy ở vùng sông nước, kênh rạch chằng chịt này dấu vết chiến tranh ít hiện hữu và cuộc sống của người dân thật hiền hòa và trù phú. Dọc bờ sông Hậu Giang, cũng như trên các kênh rạch nhà cửa người dân miệt vườn san sát, cây trái sum xuê trĩu quả nào măng cụt, dừa, chôm chôm, mận, xoài… nào ghe thuyền đầy ắp hàng hóa tấp nập chạy xuôi ngược… Lác đác tôi cũng thấy những túp lều tranh của những gia đình nông dân nghèo khổ sống bên hai bờ kênh.

Tình trạng những gia đình nông dân nghèo khổ lam lũ chủ yếu tập trung ở những vùng chiến sự ác liệt. Chẳng hạn như ở nơi cơ quan chúng tôi đóng căn cứ sâu trong rừng Tràm thuộc xã Nam Thái Sơn huyện Châu Thành tỉnh An Giang là một ví dụ.

Cuối năm 1975, tôi được đưa lên Sài Gòn (lúc đó đã được chế độ mới đổi tên là TP Hồ Chí Minh) nằm chữa bệnh ở tầng 9, phòng dành riêng cho cán bộ, chiến sỹ quân đội miền Bắc bị thương tại bệnh viện Chợ Rẫy- Sài Gòn. Thời gian chữa bệnh ở thành phố hoa lệ được mệnh danh là hòn ngọc Viễn Đông này, tôi còn choáng ngợp và sửng sốt hơn nữa về cuộc sống ở đây: cửa hàng, cửa tiệm buôn bán tấp nập nhịp sống của người dân hối hả. Ở ngoại ô thành phố, khu công nghiệp Biên Hòa của các nhà tư sản dân tộc Việt và Hoa các xí nghiệp, nhà máy san sát chạy dài hàng chục cây số. Tôi có cảm giác như lạc vào một thành phố công nghiệp sầm uất nào đó của một quốc gia tư bản ở Á châu. Tôi cũng đã tới những khu nhà ổ chuột tồi tàn của người dân nằm hai bên bờ kênh hôi thối ở Nhiêu Lộc - Quận 4, những khu lao động nghèo ở xóm Củi, ở Thị Nghè, ở Kênh Tàu Hủ ... Tôi tận mắt chứng kiến cuộc sống cơ cực, nghèo khó của người dân ở giữa đô thành Sài Gòn phồn hoa.

Nhưng tôi nghĩ, nếu đất nước này không có những cuộc chiến tranh dài hơn 30 năm vì ý thức hệ, vì dùng bạo lực nhằm thống nhất giang sơn và áp đặt lên toàn bộ đất nước: 1 chế độ chính trị XHCN vừa sơ cứng, giáo điều, vừa phản tiến hóa và lỗi thời theo học thuyết Mác-Lênin, thì chắc chắn miền Nam nói riêng và cả Việt Nam nói chung sẽ có nhiều cơ hội, điều kiện để xây dựng thành quốc gia thịnh vượng phú cường về kinh tế, dân chủ tự do về chính trị và xã hội.

Và nếu thể chế chính trị của nhà nước Việt Nam Cộng Hòa tồn tại và sẽ tiếp tục là một quốc gia có chế độ chính trị dân chủ, tiến bộ phù hợp với trào lưu chung của cả nhân loại ngày nay. Về phương diện kinh tế và đời sống xã hội của nhà nước Việt Nam Cộng Hòa, chắc chắn sẽ là một quốc gia công nghiệp phát triển và thịnh vượng nằm trong số những "Con rồng Châu Á" mà cả thế giới biết đến như các nước Hàn Quốc, Đài Loan, Singapo, Thái Lan, Hồng Kông.

Mô hình chế độ chính trị Nhà nước Việt Nam Cộng Hòa trước đây, khi ở miền Bắc tôi được nghe tuyên truyền rằng, đó là một loại hình chủ nghĩa “thực dân kiểu mới” do đế quốc Mỹ dựng nên làm tiền đồn và bàn đạp để tấn công miền Bắc và phe XHCN do Liên Xô và Trung Quốc là những nước anh em đứng đầu.Và các cơ quan tuyên truyền ở miền Bắc còn nói: về kinh tế, Miền Nam Việt Nam là một thị trường để tiêu thụ hàng hóa tư bản ế thừa của các nước phương Tây. Đây cũng là nơi mà bọn tư bản và đế quốc nước ngoài vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động rẻ mạt của nhân dân. Về đời sống văn hóa, xã hội, giáo dục…, thì mảnh đất màu mỡ ở miền Nam Việt Nam là nơi để gieo mầm cho văn hóa nô dịch của đế quốc, ngoại bang nảy nở, phát triển. Trên báo, đài phát thanh, sách văn học, sách giáo khoa dạy trong các trường học ở miền Bắc thì đầy dẫy những tuyên truyền về miền Nam là cả “một nhà tù lớn, một trại tập trung khổng lồ”. Ở nông thôn thì nông dân bị kìm kẹp trong các ấp chiến lược với lớp lớp hàng rào dây thép gai bao quanh, với nhiều chòi canh có lính được trang bị súng đạn tối tân canh gác đêm ngày v.v . và . v.v …

Nhưng trên thực tế, khi tôi đã tiếp xúc với rất nhiều người bà con gia đình hai bên nội, ngoại di cư từ quê hương miền Bắc vào miền Nam từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954. Qua việc đó, giúp tôi có một nhận thức rất khác về đời sống xã hội, kinh tế và chế độ chính trị ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Đó là một xã hội mà cuộc sống nhân dân được hưởng nhiều cởi mở và tự do. Người dân từ nông thôn đến thành thị được sống tự do dân chủ, được hưởng rất nhiều quyền Con người căn bản hơn, như: Có tự do báo chí, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do biểu tình - mít tinh, tự do hội họp, tự do sinh hoạt đảng phái chính trị, tự do xuất dương và cư trú trong nước, tự do mưu sinh, tự do ứng cử và bầu cử...

Ngay tại đô thành Sài Gòn có tới hàng chục tờ báo được tự do phát hành, những chủ báo phần lớn là của tư nhân với mọi chính kiến khác nhau kể cả chính kiến đối kháng mạnh mẽ với chính thể nhà nước Việt Nam Cộng Hòa, như các báo: Đuốc Nhà Nam, Điện Tín, Hoà Bình, Sóng Thần, Tin Sáng, Đại Dân Tộc ... Trong Hạ nghị viện ( Quốc hội ) của chế độ ở Sài Gòn lúc đó có nhiều đảng phái được tham gia sinh hoạt chính trị như: Đảng Đại Việt, Đảng Quốc dân, Đảng Dân chủ, Đảng Cộng hòa, Đảng Việt Nam Cách mạng …

Ở các vùng thôn quê thuộc đồng bằng sông Cửu Long nơi tôi công tác, tôi thấy còn rất nhiều những áp phích, bích chương và hình ảnh các ứng cử viên ra tranh cử Hội đồng chính quyền các cấp trong các cuộc bầu cử địa phương được treo, dán la liệt khắp nơi công cộng để dân chúng xem và lựa chọn. Về đời sống kinh tế, thương mại tôi thấy dân chúng được tự do buôn bán, làm ăn. Cuộc sống của họ ở cả thành thị và thôn quê rất sung túc, khung cảnh sầm uất và trù phú.

Thời còn là học sinh ở Hà Nội, tôi đã đọc trên báo chí của Đảng CS (khi đó còn gọi là Đảng lao động Việt Nam) ở miền Bắc đưa tin về các phong trào đấu tranh biểu tình của học sinh, sinh viên miền Nam chống chế độ Sài Gòn rầm rộ trên khắp các đô thị lớn lúc đó, như ở Huế, Đà Nẵng và đặc biệt ở đô thành Sài Gòn. Ấn tượng nhất là những phong trào "Hát cho đồng bào tôi nghe", "Nói cho đồng bào tôi nghe", các phong trào bãi khóa của sinh viên đại học Sài Gòn, của sinh viên đại học Vạn Hạnh phản đối trò bầu cử độc diễn của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Các phong trào đấu tranh của các phật tử sôi sục trên các đô thị ở miền Nam, tiêu biểu như vụ tự thiêu của Hoà thượng Thích Quảng Đức ở Phú Nhuận Sài Gòn chống chế độ Tổng thống Ngô Đình Diệm. Phong trào bãi thị của bà con giới tiểu thương phản đối sưu cao thuế nặng ở chợ Bến Thành Sài Gòn, chợ Đông Ba ở Huế chống chế độ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. . .

Tôi đối chiếu, so sánh với cuộc sống ở Hà nội và cả miền Bắc XHCN thì những thứ "Tự do dân chủ " và đời sống khá giả ấy quả là một sự xa xỉ và hoàn toàn xa lạ đối với người dân miền Bắc. Không bao giờ những nhà lãnh đạo Cộng Sản miền Bắc muốn xây dựng, cũng như "nhân giống" cho nảy mầm phát triển sự tự do đó trên mảnh đất phía bắc khô cằn, khổ hạnh và nghèo khổ này...

Bi kịch lớn của dân tộc ta, tổ quốc ta là ở chỗ cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn” đã tốn biết bao núi xương, sông máu của nhân dân cả nước nhằm hủy diệt một chế độ đa đảng dân chủ, tự do, và một nền kinh tế thị trường đã từng tồn tại ở miền Nam VN trước năm 1975, mà giờ đây nhân dân chúng ta đang phải đấu tranh để được đi lại đúng con đường này.

NGUYỄN KHẮC TOÀN
Những ngày cuối tháng Tư 2006

Từ Nạn Ðói Năm Ất Dậu 1945
Tới Những Ngày Trơ Xương Mắt Trắng
Tại Miền Nam VN Sau 30-4-1975

HỒ ÐINH


Thế chiến 2 tuy chính thức mở màn từ tháng 9-1939 giữa phe trục Ðức-Ý và Ðồng Minh (Anh, Pháp, Hà Lan) nhưng tới ngày 10-5-1940, Hitler mới khai hoả cuộc chiến tại Âu Châu. Ngày 14-6-1940, chính phủ Pháp của nội các Reynaud di tản chiến thuật xuống tận Bordeaux , rồi tan vở. Kinh đô Paris bị bỏ ngõ, quân Phát Xít Ðức vào tiếp thu và ngày 17-6-1940, tướng Pétain lãnh đạo lâm thời nước Pháp lúc đó, ký hiệp ước đầu hàng Ðức. Biến cố trên, đã là một bước ngoặt quan trong nhất, trong dòng lịch sử cận đại của VN, vì chính nó đã mở đường để quân phiệt Nhật vào Ðông Dương (1940-1945), gây nên thảm kịch 2 triệu người VN bị chết đói năm Ất Dậu 1945. Cọng sản đệ tam quốc tế do Hồ Chí Minh đứng đầu, đã núp trong Mặt Trận Việt Minh, lợi dụng nạn đói trên cùng những biến chuyển lịch sử trong thế chiến 2,làm sụp đổ chính phủ Trần Trọng Kim và cướp được chính quyền lúc đó đang bị bỏ ngỏ. Do những bí ẩn của lịch sử chưa được khai quật trong nấm mộ thời gian, nên chúng ta cũng đừng ngạc nhiên, khi thấy VC từ đó đến nay, vẫn tỉnh bơ trước biến cố dân chết đói năm Ất Dậu 1945. Ðã thế các sử gia đỏ còn to mồm một mực chỉ đổ thừa cho Pháp-Nhật là nguyên nhân gây nên thảm kịch. Nhưng giấy làm sao gói được lửa và thúng cũng chẳng úp giấu được voi bao lâu, nên ngày nay chẳng những người Việt, mà cả thế giới , đều biết chính bọn cọng sản quốc tế trong Mặt Trận Việt Minh lúc đó, cũng là những tòng phạm giấu mặt, đã cùng với Pháp-Nhật, gây nên thảm án thiên cổ kinh hoàng nhất trong dòng sông lịch sử Hồng Lạc.

Ngày 30-4-1975, Miền Nam VN sụp đổ hoàn toàn vì thù trong giặc ngoài , khiến cho cả nước phải sống trong vũng bùn ô uế của xã nghĩa thiên đàng từ đó đến nay. Cũng từ đó, thảm kich đói cơm ăn áo mặc và không khí tự do thở hít, đã thường trực hằng hằng , làm cho người dân Miền Nam trơ xương mắt trắng, khi phải bó buộc chấp nhận, cái ưu việt của nền kinh tế quốc doanh, lấy hộ khẩu và sổ tem phiếu làm cơ bản, mà đảng mang từ Hà Nội vào, nói là để thay thế kinh tế tư bản của VNCH, chỉ có bóc lột xấu xa và phồn vinh giả tạo vì lệ thuộc vào Mỹ Nhật. Cũng vì quá sợ sự giàu mạnh, bình đẳng và tự chủ của chủ nghĩa cọng sản, nên người Việt cả nước, trong số này có rất nhiều thành phần từng đâm sau lưng người lính trận miền Nam, đã cùng cây cột đèn, liều chết vượt biển vượt biên,đi tìm tự do trong cái chết. Phong trào bỏ quê làng đất mẹ ra đi, trốn lánh sự kềm kẹp mang rơ của giặc Hồ, có một không hai trong lịch sử của nhân loại và Hồng-Lạc, đã đánh thức lương tâm mù lòa của thế giới, cũng như một số khoa bản-trí thức, học cho nhiều mà tim óc thì ù ù cạc cạc , nghĩ suy nông cạn, tuyên bồ hồ đồ, trước chiến cuộc Ðông Dương lần thứ ba (1945-1975), do đệ tam quốc tế Nga-Tàu khởi xướng.

Năm 1945 Nhật Pháp và Việt Minh gây nên thảm nạn 2 triệu người chết đói từ Quảng Trị ra tới Miền Bắc VN. Tháng 4-1975, Cọng sản đệ tam quốc tế Hà Nội, lại gây nên cơn hồng thủy biển đông, mà mở màn từ những ngày di tản tại Huế, Ðà Nẳng.. vào đầu tháng 4-1975., khi Quân Ðoàn 1 mất, và kéo dài tới nay vẫn chưa chấm dứt nổi oan khiên trầm thống của một dân tộc, luôn bị khổ đau hờn hận, vì sự bán đứng của bọn cầm quyền mọi thời. Cái giá tự do mà người Việt tị nạn khắp nơi trên thế giới ngày nay đã có, là đã phải trả cho Việt Cộng bằng vàng, tiền, nước mắt, máu xương bản thân gia đình, cùng với những sự hãi hùng trên biển đông, khi đối diện với sóng gió và nạn hải tặc tàn bạo dã mang Thái Lan. Năm 1945 những người VN chết đói, chỉ mới có ăn cỏ cây xác động vật nhưng sau năm 1975, những người tị nạn VN trên biển Ðông, chết đói, đã phải ăn thịt người thân của mình. Ba mươi năm qua rồi, nay cũng đã đến lúc phải lột trần lịch sử, để trả lại sự oan khiên cho triệu triệu hồn ma uổng tử, đang sống vất vưởng trên vạn nẻo đường đất nước và trong lòng biển xanh mông mênh . Tất cả đều do VC gây ra từ năm 1930 tới bây giờ, những tội lỗi trong muôn ngàn tổi lỗi không sao dung thứ được.

Hưng thịnh và tồn vong của một triều đại, ngoài việc để cho nhân thế về sau viết nhớ, phê phán khen chê nhưng tội ác đối với dân tộc như chế độ phi nhân VC, chẳng những bị lịch sử bôi đen mà còn mãi mãi nằm trong bia miệng đay nghiến muôn đời :

“ thằng khùng thì đã vượt biên
còn thằng ở lại, nửa điên nửa khùng
ác hồ chết giữa ngày trùng
để toàn dân tộc nửa khùng nửa điên “


1- Nạn Ðói Năm Ất Dậu 1945 :

Sau khi được Minh Trị Thiên Hoàng canh tân đất nước, Nhật đã trở thành một cường quốc Châu Á, đánh bại Mãn Thanh lẫn Nga Hoàng và nuôi mộng làm bá chủ Ðế Quốc Ðại Á. Từ đó Nhật bành trướng thế lực quân sự không ngừng. Thập niên 20-30, Nhật chiếm Cao Ly, Mãn Châu và Bán Ðảo Liêu Ðông. Tháng 7-1937, Nhật gây chiến với Trung Hoa và gần như chiếm trọn nước Tàu, đuổi Tưởng Giới Thạch và Chính phủ Trung Hoa kháng chiến chạy tới Trùng Khánh và bắt đầu dòm ngó Ðông Dương.

Tháng 2-1939 Nhật chiếm Ðảo Hải Nam, Hoàng Sa và Trường Sa, khiến Pháp phải cử tướng Georges Catroux làm Toàn Quyền Ðông Dương, để lo phòng thủ và chống đỡ. Cùng lúc Cường Ðể cũng từ Ðông Kinh về Thượng Hải, thành lập VN. Phục Quốc Ðồng Minh Hội, trong đó có Nguyễn Hải Thần, Hồ Học Lâm, Trần Trọng Khắc.. chuẩn bị trở về VN lật đổ thực dân Pháp.

Ngày 19-6-1940, Bộ Ngoại Giao Nhật gủi tối hậu thư , đòi Toàn Quyền Ðông Dương phải chấm dứt tiếp tế cho Chính phủ Kháng Chiến Trung Hoa ở Hoa Nam , đồng thời cho quân Nhật vào đóng tại Bắc Việt. Ngày 17-7-1940, Decoux thay Catroux làm Toàn Quyền, qua thái độ phách lối trong lúc đã yếu thế, tạo thêm cớ để Nhật tiến vào VN, Miên, Lào, nhất là lúc phe quân phiệt của Tướng Tojo Hideki diang nắm quyền.

Ngày 1-8-1940 Nhật công khai thiết lập Khối Thịnh Vượng Chung Ðại Ðông Á, bao gồm Ðông Dương thuộc Pháp và Ðông Ấn ( Indonesia ) thuộc Hòa Lan. Tóm lại chỉ vì quyền lợi, mà thực dân Pháp đã muối mặt ký với Nhật, một hiệp ước ngày 30-8-1940, theo đó Nhật cho Pháp làm chủ Ðông Dương và ngược lại Pháp hợp tác với Nhật, để chia se những quyền lợi trên, đồng thời để quân Nhật đóng tại Bắc Việt , cũng như được di chuyển khắp lãnh thổ Ðông Dương. Từ đó Nhật gia nhập Liên Minh Quân Sự với Ðức-Ý, đưa Quân Ðoàn Viễn Chinh Ðông Dương (Indoshina Hakengun ) , do Thiếu Tướng Nishimurs Takuma làm tư lệnh, vào đóng khắp Việt-Miên-Lào. Nói chung, suốt thời gian 1940-9/1945, trên danh nghĩa Nhật vẫn để cho Pháp coi về Hành Chánh, An Ninh mà thội, còn tất cả tự thao túng một mình một chợ, gây nên nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu 1945, khiến hơn hai triệu đồng bào phải chết tức tủi trong oan khiên , khổ nhục.

Ngày nay, qua các tài liệu lịch sử được giãi mật, cho thấy Nạn Ðói Năm Ất Dậu 1945 , do nhiều nguyên nhân gây ra từ Pháp-Nhật, Chiến Tranh, Thiên Tai và Bàn Tay đẫm máu của Việt Minh . Qua dòng lịch sử, ta biết Dân Tộc VN từ thời lập nước Văn Lang Vua Hùng đầu tiên, tới nay do lấy nông nghiệp làm căn bản, nên không bao giờ bị đói , nếu như đất nước không bị chiến tranh hay thiên tai bất thường.

Ðói là nguyên nhân gây chiến tranh và làm sụp đổ nhiều triều đại trên thế giới nhất là nước Tàu. Trong dòng Việt Sử , thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh, vùng đất Bắc và Nam Bố Chánh, từ Thanh Nghệ vào tới Thuận Quảng, luôn là bãi chiến trường, khiến cho dân chúng phải hứng chịu nhiều đau khổ. Hơn nửa vùng này lại là trung tâm bảo tố thiên tai của VN, nên luôn luôn bị mất mùa đói kém. Từ năm 1774-1778, ở Nghệ An mất mùa khiến nhiều người phải chết đói, trong lúc đó tại Thuận Hóa tình hình cũng không khá gì hơn, vì thiên tại nên không đủ gạo. Vả lại dù có gạo nhưng giá bán quá mắc mõ, một chén tới một quan, nên dân chúng chết đói nằm la liệt ngoài đường. Thời nhà Nguyễn (1802-1945), cũng nhiều lần dân bị đói , vì cảnh loạn lạc, chiến tranh và nhất là bị thiên tai, hạn hán, nạn châu chấu phá hại mùa màng.... nhưng hầu hết chỉ có tính cách địa phương và được Triều đình giải quyết khắc phục được, chỉ trong một thời gian ngắn. Nhưng tát cả các lần đói trên, dù có căn cứ vào Việt Sử hay tài liệu của các nhà truyền giáo Pháp như La Bartette.thì chỉ là muối đem bỏ biển, trước mức độ thiệt hại trên 2 triệu người bị chết đói , từ Quảng Trị ra Miền Bắc vào năm Ất Dậu 1945.

Năm 1942 nhà văn tiền chiến nổi tiếng Tô Hoài, đã viết “ Quê Người “ . Qua tác phẩm này, ta đã thấy được sự báo trước tai họa đói kém của miền quê Bắc Việt, thường cùng sống chung một nghề, để rồi cả làng tổng cùng chịu những tai biến như nhau khi bị hoạn nạn. Do hàng ế ẩm, mọi người phải nghĩ và đổ xô đi làm thuê, còn đồng lúa thì mất mùa, khiến gạo càng thêm kém .

Rồi thì nạn đói ập đến thật khủng khiếp, trong cảnh ngàn ngàn vạn vạn người khắp các nẻo đường đất Bắc vào tận Quảng Trị, Ðồng bào bị Thực dân Pháp lẫn Quân Phiệt Nhật, bóc lột tận xương tủy , khi quy vào đất ruộng mà thu thóc, không cần biết có làm ruộng hay không. Bởi vậy cả miền trung châu sông Hồng, vốn là cái vựa lúa toàn miền, cũng phải lâm vào cái cảnh không còn gạo để mà nấu. Túng quẩn, mọi người phải ăn gia súc, khoai sắn cây cỏ, chuột mèo và những gì có thể ăn được. Sau đó cả làng bỏ nhà cùng đi lần ra tỉnh thành và Hà Nội để xin ăn và cùng chết gục dần mòn trên đường hành khuất.

Ðó là một trong những trang vong quốc sử thời Pháp thuộc, từ lúc chúng sang cai trị cho tới khi bị đánh đuổi nhục nhã phải rời VN trở về cố quốc. Trong gần trăm năm cưỡng chiếm nước ta, thực dân ngoài việc bóc lột và đàn áp đồng bào mình, chúng còn dùng rượu, thuốc phiện, bài bạc và văn chương thi phú lãng mạn để ru ngũ, đầu độc mọi tầng lớp thanh niên nam nữ trụy lạc, vong bản để không còn chống đối giặc thù cướp nước.. Theo tài liệu của Toàn quyền Ðông Dương Decoux, ghi lai trong “ À la barre de L’indochine “, thì chỉ riêng thời gia từ tháng 10-1940 tới tháng 3-1945, thực dân Pháp đã cướp của VN số bạc lên tới 723 triệu đồng Ðông Dương, để dâng nạp cho Nhật Bổn, đánh đổi chủ quyền về Hành Chánh-An Ninh, tại Việt ốMiên-Lào. Từ năm 1943-1945, tuân theo lệnh Ðông Kinh, Pháp bắt nông dân phải nộp 3/4 hay nhiều hơn số thóc đã thu hoạch được hay nhiều hơn, số lượng đã gặt tại ruộng. Sự bóc lột tàn nhẫn quá đáng này, là nguyên nhân chính đã gây ra nạn đói năm Ất Dậu 1945.

Trên tờ Thanh Nghị số 110 ngày 26-5-1945, Vũ Ðình Hòe đã viết bài “ GiáÀ thóc phải nộp cho nhà nước “, cho thấy Pháp lẩn Nhật, đã tận tuyệt vơ vét bóc lột nông dân VN lúc đó, để lập các kho dự trữ , phòng bị chiến tranh, khắp cả nước, từ Bắc vào Nam. Ðiều vô lý bất nhân của thảm kịch là Pháp Nhật đã “ quân phân “ số lương thu mua thóc, tới tất cả mọi người. Trong lúc đó, theo nguyên tắc, chính quyền Bảo Hộ chỉ nên thu mua gạo lúa của các đại điền chủ, có ruộng đất cò bay thẳng cánh, gạo thóc núi bồ, chờ mọt ăn trong khi đợi các chủ chành gạo Ba Tàu-Chợ Lớn tới chở về Sài Gòn và các tỉnh thị, đầu cơ tích trữ, bán lại cho dân nghèo bằng cái giá cắt cổ, theo qui định của bọn thực dân Pháp và quân phiệt Nhật, đang làm trùm tại Ðông Dương lúc đó. Theo các nguồn sử liệu còn lưu trữ, thì thực dân Pháp lúc đó, chỉ cần thu mua lúa gạo, từ các điền chủ có số ruộng trên 13 mẫu, cũng dư sức lập kho dự trữ lúa gạo, theo ý chúng là 120.000 tấn, mà không cần phải vơ vét thu mua gạo thóc của các tiểu điền chủ, nông dân nghèo. Cuối cùng Pháp và Nhật, qua mưu đồ chính trị riêng, đã công khai đồng lõa với bọn nhà giàu, khi miễn trừ đem luật trừng phạt gian thương ( Requisitionner) của luật pháp hiện hành, để bắt đại điền chủ bán gạo cho nhà nước khi cần thiết. Một điều quan trọng khác, là Pháp-Nhật khi thu mua gạo lúc đó, đã không theo giá thị trường, mà lại áp dụng một thứ giá đặc biệt rất thấp, khiến cho đại đa số đồng bào VN, với 90 % sống bằng nghề làm ruộng, tức khắc bi thương tổn, vì thu hoạch không đủ bù vào tiền vốn cầy cấy, nên phải vơ vét hết gạo thóc để dành trong mùa sau, đem bán lấy tiền trả nợ hoặc sống qua ngày. Về lý thuyết thì giá gạo trên thị trường, năm 1943 đối với năm 1940 có tăng từ 11$50-14$50/1tạ, nhưng trong lúc đó vật giá, cũng đã tăng lên tới 300%, nên giá thóc phải được ấn định là 35$/1ta, còn gạo 75$/1tạ mới hợp lý, theo sinh hoạt giá cả năm 1943 đã tăng gấp 3 lần năm 1940.

Cũng liên quan tới thảm kịch chết đói năm 1945, một Pháp kiều ở VN đã viết “ Témoignages et documents Francais relatifs à la colonization Francais au VN “ , tố cáo sự kiện thực dân Pháp gây nên trận đói năm Ất Dậu, làm chết 2 triệu người từ Quảng Trị ra đất Bắc, chỉ nhằm hai mục đích chính, như Thống Sứ Bắc Kỳ lúc đó là Chauvet đã tự nhận : Bắt dân VN chết đói để nhận chìm phong trào cả nước đang nổi lên khắp nơi chống sự đô hộ của giặc Pháp, lúc đó bản quốc tại Âu Châu, cũng đang sống ô nhục dưới gót giầy sắt của Phát Xít Ðức. Gây nạn đói, khi cho phép các công ty Pháp-Nhật ( Cenis Frères và Mitsubishi ) độc quyền thu mua bốc lột gạo thóc với giá rẻ mạt, khiến cho dân chúng lâm vào đường cùng. Từ đó mới có nhiều người đi làm phu đồn điền cao su và hầm mỏ cho thực dân tại thuộc địa ở đảo Nouvelle Calédonie gần Úc Châu.

Một tác giả Nhật tên Yoshizawa Minami, trong tác phẩm “ Chiến tranh Châu Á , trong tiềm thức của chúng ta “ đã xác nhận là sự hiện diện của 80.000 quân Thiên Hoàng và hơn 200.000 Nhật Kiều từ năm 1940-1945, đã làm cho đất nước VN hỗn loạn cùng cực, khi Nhật lấy Ðông Dương làm vị trí then chốt, trong việc cung cấp lương thực, chẳng những cho quân Nhật đang chiến đấu tại đây, mà còn cả Châu Á và Thái Bình Dương. Ðây mới chính là nguyên nhân gây chết đói năm 1945.

Vì muốn duy trì quyền lợi tại Ðông Dương trong lúc yếu thế, thực dân Pháp qua toàn quyền Decoux, bất chấp thủ đoạn và lương tâm con người, đã bán đứng Dân Tộc cũng như Ðất nước VN cho quân phiệt Nhật, qua các hiệp ước bất bình đẳng , chỉ làm tổn hại cho VN, mà lợi cho cả Pháp và Nhật lúc đó, quan trọng nhất là sự Pháp càng lúc càng xuất cảng sang Nhật thêm nhiều lúa gạo,thực phẩm dành nuôi sống người trong nước. Ðể thực hiện cái kế hoạch lưu manh trên, từ tháng 12-1942, Decoux cho thành lâp Uỷ Ban Ngu$ Cốc ( Comité des Céréales), độc quyền cấp giấy phép cũng như mua bán các loại nhu yếu phẩm này. Ngoài ra Pháp còn ra lệnh cho nông dân cả nước phải dành một số đồng ruộng, trồng bông vải, day, gai, thầu dầu.. theo đòi hỏi của Nhật. Sự kiên trên đã làm cho đất đai miền Bắc và Bắc Trung Phần, vốn đã ít ỏi, lại càng bị thu hẹp hơn, đã khiến cho nông dân bình thường vốn chỉ đủ gạo để mà ăn nếu không bị thiên tai mất mùa, nay bị đói là điều không sao tránh được. Rồi giữa lúc nạn đói đã bắt đầu, dân chúng nông thôn phải ăn độn khoai sắn, thì Pháp lại ra lệnh dân chúng phải bán hết số thóc gạo dự trữ của mình, để chúng lâp kho quân lương, tại Yên Bái, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ.. từ tháng 3/1944-1945. Song song quân Nhật cũng lập kho dự trữ gạo dành cho Quân Ðoàn 38.

Trong lúc đó, tại Bắc Việt và vùng Thanh-Nghệ-Tỉnh-Bình, từ năm 1936-1945, không năm nào là không có bảo tố, lụt lội, khiến cho mùa màng bị hư hại vì ngập nước, làm cho nhiều gia đình quá nghèo, không đủ tiền mua gạo giá chợ đen, phải dắt díu nhau ra tỉnh thành xin ăn qua ngày. Rồi chiến tranh càng lúc càng ác liệt, sau khi Hoa Kỳ trực tiếp tham dự vào Thế Chiến 2, đối đầu với Nhật ở Châu Á. Tại Ðông Dương, từng giờ, tàu ngầm tàu chiến, máy bay Ðồng Minh, không ngớt oanh tạc tấn công các đơn vị Nhật trấn đóng tại VN, khiến cho mọi phương tiện chuyên chở, giao thông, từ Nam ra Bắc đều bị bế tắc. Tình trạng trên khiến cho gạo trong Nam chất đống như núi tại bến cảng, nhà kho, trong khi ngoài Bắc không có một hột, làm cho nhiều người lâm cảnh đói. Ngoài rat hay vì tận dụng số phương tiện còn lại thật ít ỏi, để chở gạo ra Bắc cứu dân đói nhưng Pháp và Nhật đã cùng chiếm lĩnh các phương tiện này, trong đó có xe lửa, để chuyển quân đội và quân trang dụng mà thôi.

2 Chính Phủ Trần Trọng Kim cứu đói và Việt Minh lợi dụng nạn đói để cướp chính quyền :

Ngày 9-3-1945 quân phiệt Nhật chính thức xóa bỏ sự cầm quyền của thực dân Pháp tại bán đảo Ðông Dương, kéo dài hơn 80 năm thống trị và đô hộ các quốc gia Việt Miên Lào.

Biến cố lịch sử trọng đại này, lại ngẫu nhiên trùng hợp với nạn đói năm Ất Dậu 1945 tại miền Bắc và bắc Trung Kỳ, càng tô thêm sự bi thảm của Dân Tộc VN, trong thời kỳ cận sử . Nhưng đây cũng chính là thời cơ, để cho Mặt Trận Việt Minh, một tổ chức ngoại vi của đảng cọng sản Ðông Dương, do Hồ Chí Minh cầm đầu từ năm 1941, lợi dụng tình trạng đói kém của đồng bào để mà tuyên truyền lôi kéo mọi người vào đảng :

“Ðồng bào hãy vùng dậy !

quyết tâm theo ác hồ

nông dân sẽ có đất

người nghèo sẽ có ăn

gạo lúa sẽ đầy sân

đả đảo địa chủ

đả đảo cường hào ác bá “

Nương theo thời cơ và sự giúp đỡ của Mỹ, do nhu cầu tình báo lúc đó, Việt Minh đã trương bảng hiệu “ Chống phát xít Nhật và thực dân Pháp “.Theo các tài liệu mật được giải mã, thì chính sự giúp đỡ của Ðại Uý Archimede L.Patti, một nhân viên OSS (tiền thân của CIA), qua vũ khí đạn dược, thuốc men cũng như sự công nhận của Mỹ, làm cho Việt Minh, chẳng những không bị Nhật tiêu diệt và còn có cơ hội cướp được chính quyền vào mùa thu tháng tám năm 1945, trong lúc cả Hoa Kỳ lẫn Patti đều biết Hồ Chí Minh là một điệp viên ngoại hạng của Ðệ Tam Cọng Sản Quốc Tế, làm việc cho điện Câm Linh (Liên Xô và Trung Cộng ).

Sau ngày 9-3-1945 Nhật lật đổ thực dân Pháp, thì phong trào quốc gia ngày một sôi sục và dâng cao khắp nước, khiến cho Người Nhật lúc đó phải ủng hộ vai trò cầm quyền của vua Bảo Ðại, để đối kháng với Mặt trận Việt Minh, được người Mỹ giúp đỡ, trong vai trò chống Nhật. Ngày 17-3-1945 Hoàng Ðế tuyên cáo nước VN độc lập, dù chỉ liên quan tới Bắc và Trung Kỳ, đồng thời với sự ra đời của Chính Phủ Trần Trọng Kim (17/4/1945-25-8-1945).

Tuy Chính phủ này chỉ hiện diện trên chính trường VN một thời gian ngắn ngủi và trong quá khứ đã không ngớt bị VC xuyên tạc bôi bác là “ Cải Cách Giấy “.Nhưng nay qua sự soi sáng của lịch sử, ta mới biết được Thủ tướng Kim và nội các chính phủ, đã làm được rất nhiều chuyện có lợi ích cho quốc dân VN, đồng thời đã phản ảnh được quan điểm chung của tầng lớp thương lưu trí thức đương thời. Ngày 4-5-1945, chính phủ quyết định lấy lại quốc hiệu Việt Nam, để chỉ sự vẹn toàn lãnh thổ ba miền Bắc-Trung-Nam như năm 1801 khi vua Gia Long thống nhất được đất nước. Việc làm ý nghĩa này, tức khắc được quốc dân cũng nhu cả thế giới chấp nhân. Cũng từ đó nhân loại dùng danh từ “ Vietnamese “ để chỉ người VN và loại bỏ các danh xưng của Pháp trước tháng 3-1945 với ác ý phân chia đất nước chúng ta thành ba miền riêng biệt để cai trị. Ngày 2-6-1945 chính phủ đã chọn lá cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ, theo hình Quẻ Ly , làm Quốc Kỳ Mới của Quốc Gia VN. Ðồng thời vào ngày 30-6-1945, lại chọn bài “ Ðăng Ðàn Cung “ làm Quốc Thiều.

Giữa lúc đất nước hỗn loạn vì chiến tranh, cộng thêm nạn đói hoành hành và trên hết là sự chống phá của phe nhóm thưc dân Pháp theo DeGaulle và Việt Minh được Mỹ yểm trợ, trong khi Chính Phủ Trần Trọng Kim không có quân đội và phương tiện, để thực thi những quốc sách. Tuy nhiên nhờ uy tín và tài năng từ vị Thủ Tướng, cũng như nhiều Bộ Trưởng trong nội các, nên vào tháng 7-1945 Nhật trên nguyên tắc, đồng ý trao trả Nam Việt lại VN.

Ðối với Nạn Ðói năm Ất Dậu 1945, tuy phương tiện và nhân lực rất hạn chế, Chính Phủ Kim cũng đã dồn hết nỗ lực để cứu giúp đồng bào trong cơn hoạn nạn. Một mặt Ông yêu cầu Nhật bỏ lệ thu mua gạo tại Miền Trung, đồng thời Miền Bắc chỉ thu mua gạo cho ai có trên 3 mẫu ruộng. Bộ trưởng Tiếp tế là Nguyễn Hữu Thí cũng được cử vào Sài Gòn , lo việc chuyên chở gạo Miền Nam ra Bắc cứu đói, bằng các chuyến thuyền buồm và ghe bầu. Ngoài ra còn cho phép các tư nhân được tự do và toàn quyền mua bán gạo, nhưng nghiêm trị những gian thương, đầu cơ tích trữ lúa gạo bằng hình luật tử hình và tịch biên tài sản. Chính phủ cũng cho tập trung tất cả những nạn nhân vụ đói còn sống sót, cũng như thành phần vô gia cư, vào các Trung Tâm Cứu Trợ Ðặc Biệt , để chăm sóc họ. Báo chí trong nước đều tham gia kêu gọi cưu trợ. Nhờ vậy đến cuối tháng 3-1945 , miền Bắc đã thành lập được Tổng Hội Cứu Tế , do Nguyễn Văn Tố cầm đầu và tới cuối tháng 5-1945 đã quyên góp được 783.403 đồng tiền Ðông Dương. Ở Nam Kỳ , qua lời kêu gọi của Chính Phủ Kim, chỉ trong tháng 5-1945, đã quyên góp được 1.677.886 đồng, cùng 1.592 tạ gạo, mà tiền mua và chuyên chở ra Bắc tốn hết 481.403 đồng. Tuy hầu hết các ghe bầu chạy buồm bị Nhật trưng dụng và Hải cảng Hải Phòng bị Hoa Kỳ phong tỏa và oang tạc, nhưng cuối cùng việc chuyển gạo từ Nam ra Bắc cứu đói của Chính Phủ Trần Trọng Kim, cũng đạt được hiệu quả, giảm bớt phần nào thảm trạng đau khổ của nạn nhân, đồng thời tạo cơ hội cho đồng bào cả nước, nhất là giới trẻ và trí thức , đoàn kết nhau trong các sinh hoạt xã hội..

Nhưng hỡi ơi lòng tham của con người thật là tàn nhẫn, trong lúc Chính Phủ banh ruột xẻ gan để cứu trợ hơn hai triệu người bị chết đói, bỏ xác phơi thây khắp cc nẻo đường, thì Việt Minh bằng mọi cách, phá hoại các công tác nhân đạo, cứu trợ đồng bào. Một mặt thì cho du kích chận đường cướp gạo cứu tế từ trong Nam ra, nơi đường biển lẫn đường bộ. Nhưng quan trọng nhất là Việt Minh không ngớt xúi dục đồng bào, đánh phá cướp giựt các kho vựa chứa gạo lúa của Chính Phủ, dành tiếp tế cứu đói. Ngoài ra Việt Minh còn cho người ám sát hay tuyên truyền bôi nhọ, những nhân vật cầm đầu các Hội Từ Thiện. Nhưng tàn ác vô nhân đạo nhất, vẫn là cung cấp tin tình báo cho Hoa Kỳ về ngày giờ các chuyến xe lửa hay ghe bầu chở gạo, trong Nam ra Bắc cứu đói. Nhỡ vậy Người Mỹ đã đạt được chiến thắng vinh quang, khi oanh tạc trúng phóc những chuyến tàu thuyền chở gạo cứu đói, làm cho Miền Bắc phải lâm vào thảm kịch Chết đói năm Ất Dậu , có một không hai trong Việt Sử. Tóm lại nhờ sự tận tâm vô bờ của Chính Phủ, đồng thời do Trời Phật thương xót nên trong vụ lúa tháng 5-1945, Miền bắc được mùa, nên đã giải quyết phần nào nạn đói và chấm dứt hẳn, khi các tàu chở gạo trong Nam cấp được các bến trên đất Bắc. Ngày 25-8-1945 chính quyền Nhật tại Ðông Dương, coi như bị sụp đổ khi Mỹ dội hai trái bom nguyên tử trên Ðất Nhật, kéo theo sự tan vỡ của người Quốc Gia. Trong lúc đó, Việt Minh từ bưng tiến về Thành, qua sự yểm trợ hùng hậu của người Mỹ, nên đã thừa lúc dâu đổ bìm leo, cướp được chính quyền lúc đó, đang lăn lóc bên vệ đường trong cơn hỗn loạn chính trị.

Tóm lại trong nạn đói năm Ất Dậu 1945, làm chết đói hơn 2 triệu người, do Pháp và Nhật gây nên. Ngoài ra còn có Mặt Trận Việt Minh, đã thừa nước đục thả câu, lợi dụng nạn đói, cướp giựt thực phẩm tiếp tế dành cho đồng bào, để tuyên truyền chống Pháp-Nhật, theo nhu cầu của người Mỹ lúc đó, khiến cho người dân chết đói càng thêm bi thảm tận tuyệt.

Thế chiến 2 chấm dứt, bao nhiêu thảm kịch của nhân loại lần lượt được phơi bày ra ánh sáng công lý nhưng thảm kịch hai triệu người VN bị chết đói năm Ất Dậu 1945, vẫn chưa thấy Pháp, Nhật hay Việt Cộng nhắc tới. Thời VNCH, người Nhật bồi thường chiến tranh 39 triệu US, đồng thời cho Chính phủ vay tiền xây dựng hệ thống thủy diện Ða Nhim, nên vụ chết đói 1945 coi như được xóa sổ. Sau 1975 VC cưỡng đoạt và trùm cả nước, sống nhờ tiền Nhật đầu tư cũng như giúp tiền xây dựng Cầu Sông Hậu tại Cần Thơ, thực hiện từ năm 2001, nên VC cũng câm họng, ngậm miệng ăn tiền. Nhưng lịch sử vẫn là lịch sử, nếu Người Trung Hoa và Triều Tiên , chỉ vì một thiểu số đàn bà con gái bị Nhật bắt làm trợ lý, mà không ngớt đòi bồi thường hay hạ nhục nước Nhật trên công luận quốc tế, thì người VN sớm muộn, cũng sẽ bắt Pháp ốNhật và kẻ tòng phạm mang mặt nạ là Việt Minh, phải công khai nhận trách nhiệm giết người, trước lương tâm nhân loại.

3 Những ngày trơ xương mắt trắng tại Miền NamVN sau tháng 5-1975 :

Sau khi VNCH bị sụp đổ, ngoài thành phần Quân,Công, Cán, Cảnh của Miền Nam bị trả thù, cọng sản Hà Nội còn tận tuyệt hủy diệt các tầng lớp tư sản qua tội danh bóc lột, phồn vinh giả tạo.. Tại Ðại Hội đảng lần thứ IV vào tháng 5-1975, Lê Duẩn đã vênh váo tuyên bố rằng, từ nay người VN sẽ đi trên thảm vàng, đồng thời đuổi kịp rồi qua mặt Nhật Bản trong vòng 15 năm tới. Trên thực tế ai cũng biết trước tháng 4-1975, Bắc Việt chỉ có hai công trình vĩ đại nhất là Lăng Hồ Chí Minh tại Ba Ðình Hà Nội và Khách sạn quốc tế trên bờ Hồ Tây, do Fidel Castro của Cu Ba xây tặng. Trong lúc đó tại VNCH, đâu đâu cũng có những cơ sở kỹ nghệ nặng và nhẹ, đều được trang bị máy móc mới và tối tân, nhất là các ngành dệt, điện, lắp ráp các loại hàng sản xuất tiêu thụ. Khi VC vào, đã tận tình vơ vét máy móc đem về Bắc, bắt nhiều nhà máy ngưng hoạt động hay biến thành quốc doanh, hữu danh vô thực.

Song song với kế hoạch trả thù và tận diệt các tầng lớp trên, VC còn bày thêm quốc sách kinh tế mới vào cuối năm 1975, để đuổi hết số gia đình có liên hệ tới chế độ VNCH, đang sống tại Sài Gòn và các tỉnh thành, đi lao động canh tác tại rừng sâu, núi cao, ma thiêng nước độc. Kế hoạch thâm độc này, vừa tống khứ được những thành phần còn lại mà VC đã xếp loại nguy hiểm, sau khi chồng con thân nhân của họ đã bi đảng gạt vào tù. Ngoài ra có như vậy, VC mới chiếm được nhà cửa ruộng vườn và các tiện nghi của Miền Nam, để phân phối cho cán bộ miền Bắc, lúc đó chỉ có súng đạn, tăng pháo và mớ lý thuyết của Mác-Lê-Mao-Hồ mà thôi.

Ai đã từng là tù nhân của VC dù có ở trong Nam hay được đưa ra miền Bắc, dù bị nhốt lâu hay mau, chắc hẳn sẽ chẳng bao giờ quên nổi những đau đớn về vật chất và nhất là sự tủi nhục tinh thần, khi bị bọn VC gọi chúng ta là ngụy quân, ngụy quyền, là những đống rác bẩn thỉu, cặn bã của xã hội, đánh giặc thuê cho Mỹ, Pháp, Nhật..

Ai đã từng bị VC cướp của, cướp nhà, đày đoạ lên tận miền rừng núi để phát triển kinh tế mới. Ða số đã ngã quỵ vì không chịu nổi mưa nắng, cùng cảnh ma thiêng nước độc, bệnh sốt rét rừng, ghẻ lở, kiết lỵ.. mà không có thuốc uống. Cuối cùng những người còn sống, kiệt sức vì đói bệnh, nên đã bỏ rừng chạy ngược về thành. Họ đã trở nên vô gia cư và ở bất cừ nơi nào, kể cả nghĩa địa, gầm cầu, chùa miễu.. ăn sống, phó mặc cho định mệnh và bọn công an, tới hốt bắt, đưa lên lại vùng kinh tế mới, rồi họ lại về.Rốt cục huề cả làng, và càng ngày càng có nhiều người vô gia cư sống khắp mọi nẻo đường đất nước, trong xã nghĩa thiên đường.

Ðầu tháng 4-1975, Người Mỷ đã bắt đầu chạy khỏi Nam VN bằng chuyến bay định mệnh, đưa 250 trẻ mồ côi và 37 nhân viên của Dao đi theo săn sóc. Nhưng chiếc C5 đó đã bị tai nạn, chỉ còn 175 em sống sót với một số người lớn may mắn. Tai nạn này đã báo trước những thảm kịch sắp tới cho làn sóng người bỏ nước ra đi vì không muốn sống chung với rợ Hồ, giết người cướp của.

Ngày 15-4-1975, thượng viên Hoa Kỳ thông qua đạo luật, cho phép 200.000 dân tị nạn Ðông Dương, được vào sống trên đất Mỹ. Song song, chính phủ Mỹ cũng mở chién dịch Frequent Wind tại Sài Gòn, để di tản các công dân Mỹ và 17.000 người Việt có liên hệ. Máu lệ và thảm kịch VN đã khơi nguồn từ đó, vào những ngày cuối tháng 4-1975, khi ngàn ngàn vạn vạn người với đủ mọi phương tiện, tiến ra biển Ðông, để mong được Ðệ Thất Hạm Ðội cứu vớt những chỉ tới ngày 2-5-1975 thì chấm dứt. Tóm lại từ tháng 5-1975 tới bây giờ, người Việt bỏ nước ra đi để tìm tự do và đất sống, hoàn toàn chấp nhận may rủi “ một sống chín chết “, trong hoàn cảnh bơ vơ tự cứu. Do trên hầu hết những người đến được bờ đất hứa, đã phải trả một giá thật đắt, trong đó một dạo có hằng trăm ngàn câu chuyện, bi thảm não nùng của thuyền nhân VN, bị HẢI TẶC THÁI LAN cướp giết, trôi giạt vào hoang đảo và đã ĂN THỊT NGƯỜI lẫn nhau để mà sống.

Sau khi cưỡng chiếm xong VN, đảng Hồ và đảng Mao trở mặt, nên VC đã quy tội cho Ba Tàu Sài Gòn-Chợ Lớn là mối đe dọa, rồi đòi Trung Cộng phải qua hốt hết 1,2 triệu người Việt gốc Hoa về nước. Sự kiện được Tàu Cộng chấp nhận, phái hai chiến hạm tới các hải cảng VN để nhận người. Nhưng đến cho có mặt, chứ Tàu Cộng đâu có ngu, lãnh đám dân nghèo này về nước đê nuôi ăn, vì vậy nửa đêm nhổ neo rút cầu, âm thầm về nước. Sáng ngày 24-3-1978 trên khắp các nẻo đường Sai Gòn-Chợ Lớn, bổng xuất hiện rất nhiều xe vận tải, chở công an, bộ đội và hằng ngàn thanh niên nam nữ đeo băng đỏ trên tay áo. Theo đài phát thanh của VC thông báo, thì đây là chiến dịch “ Ðánh Tư Bản ố Diệt Thương Gia “.Trước đây vào sáng ngày 20-3-1978, tại Chợ Lớn, cũng đã có một cuộc xô xát, giữa trăm người Hoa và công An VC ph3n đối bắt bắt lính, bắt đi kinh tế mới và đòi được trở về Tàu, sống với Trung Cộng. Nhưng lần này, cuộc bố ráp qui mô không phải để bắt người Hoa chống đối hôm trước, mà là xộc vào từng nhà,cùng các cửa tiệm, để kiếm tiền đôla và vàng cất dấu, cũng như kiểm kê tất cả hàng hóa kể cả cây chổi, ngoại trừ hình “ bác “ và lá cờ “ đảng “, máu đỏ sao vàng. Nghe nói lần đó, đảng đã hốt của Người Hoa gần 7 tấn vàng và cả mấy bao tiền đô Mỹ, khiến cho mấy chục người uất hận phải tự tử chết. Vậy là đảng đã ba bước nhảy vọt, chiến thắng tư bản chủ nghĩa, bước lên thiên đàng xã nghĩa ưu việt. Cũng từ đó đã có trên 250.000 Hoa phải bỏ nước ra đi và theo thống kê của Cao Ủy Tị Nạn năm 1983, trong số này có trên 50.000 đã chết trên biển vì sóng gío và hải tặc Thái Lan.

Sau ngày 30-4-1975 khi Miền Nam bị VC Hà Nội cưởng chiếm, thì Biển Ðông đã trở thành cửa ngỏ để đồng bào vượt thoát tìm tự do. Nhưng đồng thời biển cũng đã biến thành hỏa ngục và trên hết, đảng VC đã thưc hiện được công trình vĩ đại nhất trong Việt Sử. Ðó là KỸ NGHỆ XUẤT CẢNG NGƯỜI, từ cho thuyền nhân vượt biển chính thức, tới các chương trình ra đi có trật tự (ODP), hồi hương con Mỹ Lai và Mua Vợ Bán Chồng giả. Tất cả các nghiệp vụ trên, đều giúp cho tập thể lãnh đạo đảng giàu to nhờ thu vào được nhiều vàng, tính tới cuối năm 1989, đảng thu vào chừng 3.000 triệu mỹ kim, con số nhìn vào thấy rởn tóc gáy nhưng lại là sự thật. Bởi vậy đâu có ngạc nhiên, khi biết xã nghĩa VN, là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới, lại có nhiều tỷ phú đứng hàng đầu nhân loại.

Theo sử liệu thì năm 1978 là năm VC chính thức trục xuất người Hoa ra biển. Ðây cũng là thời gian đảng xuất cảng người nhiều nhất, mà theo thống kê của Cao Uỷ Tị Nạn, số người tạm trú tại các Trại khắp Ðông Nam Á, lên tới 292.315 người. Cũng theo tài liệu của Hồng Thập Tự Quốc Tế, thì từ năm 1977-1983 đã có khoảng 290.000 người đã chết hay mất tích trên biển Ðông.

Ngày 15-1-1990 khi mà Mỹ chuẩn bị bãi bỏ lệnh cấm vận và lập bang giao với VC, thì tại vùng biển Nakhon Si Thammarat, có 11 thi thể PHỤ NỮ VIỆT NAM, tất cả đều trần tuồng thê thảm, trôi tắp vào bờ. Theo Thiếu tá cảnh sát Thái Chumphol, người có trách nhiệm lập biên bản khám nghiệm, cho báo chí biết, thì tất cả các nạn nhân, có tuổi từ 18-20. Họ bị giết sau khi bị hải tặc Thái Lan hãm bức nhiều làn. Ðây cũng chỉ là một trong ngàn muôn thảm kịch máu lệ của thân phận VN, từ khi VC cưỡng chiếm được đất nước. Ðã có hằng triệu người chết lòng biển, khi tìm tới những địa danh Songkla, Pulau Tanga, Pulau Bidong, Galang.. Có nhiều cái chết của thuyền nhân thật tức tưởi và oan khiên, mà không bút mực nào viết cho nổi, chẳng hạn như Tàu của Chủ Khách Sạn “ Lộc Hotel “ ở An Ðông, chở trên 500 người, đi bán chính thức nhưng khi tới Gò Công thì bị gài bom nổ, chết sạch chỉ có tài công và 3 người may mắn sống sót. Tàu Lập Xương di bán chính thức ngày 22-1-1979, chở 200 người, cũng bị gài bom nổ ngoài biển, chỉ còn một vài người may mắn sống sót được Tàu Panama cứu đem vào trại Tị Nạn. Ðây cũng chỉ là một vài chuyện nhỏ trong ngàn muôn thảm kịch mà thuyền nhân, đã chịu từ khi phong trào vượt biển bùng nổ vào d0ầu năm 1977-1989.

Người vượt biển tìm tự do, ngoài sóng gió bão tố bất thường không biết trước, còn chịu thêm cảnh săn đuổi của công an, bộ đội biên phòng và ghe tàu đánh cá quốc doanh có trang bị súng máy và súng cá nhân. Nhưng hãi hùng nhất vẫn là Nạn Hải Tặc Thái Lan. Bọn này rất hung ác, tàn bạo, sau khi chận bắt thuyền vượt biển, chúng cướp giựt hết tất cả tài sản, đánh đập mọi người, hãm hiếp phụ nữ và bắn bỏ những ai muốn trố. Sau đó để phi tang, chúng đốt thuyền cho chìm, giết hết đàn ông và bắt đem theo phụ nữ, hành lạc cho tàn tạ và đem về đất liền bán cho các động đĩ.

Câu chuyện của một chiếc tàu vượt biển lênh đênh sau 32 ngày bị hải tặc Thái Lan đánh cướp, chỉ còn có 52 người sống sót, thì gặp được Chiến Hạm USN.Dubuque, do Ðại Tá Alexander chỉ huy, nhưng bị từ chối không cứu vớt, khiến cho số người trên chết gần hết. Những người sống sót phải ăn thịt bạn bè để cầu sinh. Viên Ðại Tá Mỹ vô nhân đạo trên, bị Bộ Hải Quân Mỹ lột chức và truy tố ra Tòa Quân Sự

Cũng do hằng ngàn câu chuyện đứt ruột của người vượt biển tìm tự do, mà nhân loại ngày nay có thêm một danh từ độc đáo “ Boat People “, giống như trước kia người Do Thái, qua cuộc hành trình tìm đường về đất hứa, cũng đã làm nảy sinh danh từ “ Holocaust “.Tuy nhiên, nếu đem so sánh, kể cả chuyện người Do Thái bị Ðức Quốc Xã tàn sát trong thế chiến 2, thì thảm kịch vượt biển của người VN trên biển Ðông, vẫn bi đát hơn nhiều.

Năm 1945, VC núp trong Mặt Trận Việt Minh, lợi dụng nạn đói năm Ất Dậu, để tuyên truyền và cướp chính quyền từ trong tay người Quốc Gia, nhờ vào súng đạn của người Mỹ. Từ năm 1955-1975 VC gây nên cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai, và đã cưỡng chiếm được VNCH, nhờ Nixon-Kissinger dàn dựng lên Hiệp định ngưng bắn 1973, hợp thức hóa sự chiếm đóng của cọng sản Hà Nội trên lãnh thổ Miền Nam. Ngày nay, VC lại đem tình thương nhớ quê hương VN ra khuyến dụ người tị nạn, mong mọi người hòa hợp hòa giải, xóa bỏ hận nước thù nhà. Nhưng VC đã lầm, cho dù đã có nhiều người tị nạn trở về VN nhưng thực tế hầu hết chỉ vì gia đình. Sau đó ai cũng quay lại miền đất tự do, để chờ một ngày chính thức được theo sau gót voi của Quang Trung Ðại Ðế về giải phóng Thủ Ðo Sài Gòn-Huế-Hà Nội. Ngày đó chắc không xa, vì hiện nay cả nước đều biết chế độ cọng sản đã sụp đổ toàn diện, từ ý thức hệ, lãnh đạo, kể cả huyền thoại Hồ Chí Minh, cho tới đời sống tinh thần, kinh tế, xã hôi. Chính sự xét lại của đảng, đã minh chứng sự sụp đổ trên.

Bổng thấy thấm thía vô cùng, khi nhớ lại câu nói của nhà cách mạng vĩ đại trong thế kỷ XX là Phan Bội Châu “ Tòng Lai Quốc Dân Sở Dĩ Suy Ðồi, Chỉ vì Hai Nguyên Nhân : BỤNG ÐÓI VÀ ÓC ÐÓI “ . Từ năm 1930-2005, cọng sản VN đã đấu tranh đẫm máu, giết hại triệu triệu người, cũng chỉ muốn đạt cho được mục đích là đưa Dân Tộc vào con đường cách mạng vô sản, bằng thống trị ngục tù, bằng gầy mòn đói khát., bằng áp chế dối gian. Nhưng tất cả ngày nay đã trở thành những chiếc đinh rỉ, đóng cứng chiếc quan tài đỏ, trong đó có chứa bao triệu oan hồn VN,kể cả những người đã chết đói năm Ất Dậu 1945,những người sinh bắc tử nam, những thuyền nhân chết trên biển. Tất cả là những nhân chứng, bia miệng ngàn đời bôi đen VC trong dòng sử dân tộc. /-

Xóm Cồn 11-1-05
HỒ ÐINH